Vụ 14 tiếng dùng hết 1,1 tỷ cước điện thoại: VNPT thắng kiện

Khi vừa hòa mạng thì thuê bao của bà Ngân phát sinh 1,1 tỷ đồng tiền cước gọi quốc tế trong 14 tiếng. Bà Ngân không đồng ý trả nên VNPT kiện ra tòa. Tòa sơ thẩm bác đơn kiện của VNPT. Tuy nhiên, tòa phúc thẩm tuyên VNPT thắng, buộc bà Ngân phải trả 1,1 tỷ đồng.

Ngày 14/9, TAND TPHCM tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án dân sự giữa Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) kiện bà Hoàng Ngân (ngụ phường 5, quận 11) đòi gần 1,1 tỉ đồng tiền cước phí điện thoại.

Tòa tuyên buộc bà Ngân phải trả cho VNPT số tiền 1,1 tỷ đồng.
Tòa tuyên buộc bà Ngân phải trả cho VNPT số tiền 1,1 tỷ đồng.

Theo đơn khởi kiện nộp tòa vào tháng 6/2014, VNPT trình bày, ngày 1/7/2013, bà Ngân có ký hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính viễn thông với một chi nhánh của Viễn thông TPHCM (thuộc VNPT).

Theo hợp đồng, Viễn thông TPHCM cung cấp cho bà Ngân sim điện thoại có thể gọi chuyển vùng quốc tế. Bà Ngân ký quỹ 5 triệu đồng, khi nào không sử dụng dịch vụ này nữa thì sẽ được nhận lại tiền ký quỹ.

Nhưng khi vừa hòa mạng thì thuê bao của bà Ngân phát sinh cước cao bất thường, từ ngày 1 – 6/7/2013, số thuê bao này phát sinh tiền cước gần 1,1 tỉ đồng.

Viễn thông TPHCM thông báo cho bà Ngân biết sự việc và yêu cầu bà thanh toán cước phí gần 1,1 tỉ đồng. Do bà Ngân không đồng ý nên VNPT khởi kiện đòi tiền.

Trước đó, xử sơ thẩm, TAND quận 11 bác đơn khởi kiện của VNPT, không chấp nhận bản án sơ thẩm nên VNPT TPHCM kháng cáo.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn cho biết sau khi vừa hòa mạng thì thuê bao của bà Ngân phát sinh cước cao bất thường trong 14 tiếng với số tiền 1,1 tỉ đồng tiền cước gọi, sử dụng dịch vụ chuyển vùng quốc tế.

Đại diện ủy quyền cho bà Ngân không đồng ý trả tiền và cho rằng phía VNPT đã giải thích hợp đồng không đúng nội dung đôi bên giao kết. Bà chỉ đăng ký sử dụng dịch vụ gọi chuyển vùng quốc tế trong trường hợp khi thuê bao ở nước ngoài, hoàn toàn không có việc gọi quốc tế mà không bị giới hạn bởi vị trí máy gọi, máy nhận như phía nguyên đơn trình bày. Hơn nữa, trong hợp đồng không có thỏa thuận về việc sử dụng dịch vụ gọi quốc tế.

Theo HĐXX, hợp đồng cung cấp sử dụng dịch vụ viễn được ký kết giữa VNPT và Ngân là có hiệu lực pháp luật. Cả hai bên đều công nhận việc ngoài các nội dung in sẵn, còn có nội dung mở dịch vụ gọi quốc tế và chuyển vùng quốc tế.

“Hợp đồng này cho thấy ý chí của bị đơn yêu cầu công ty cung cấp dịch vụ gọi quốc tế và gọi chuyển vùng quốc tế và đã được phía công ty đáp ứng. Bà Ngân cho rằng hợp đồng không rõ ràng là không có cơ sở”, HĐXX phúc thẩm nhận định.

Bản án nhận định, kết quả giám định các cuộc gọi được thực hiện đúng pháp luật. Số thuê bao của bà Ngân đã đăng ký dịch vụ dịch vụ chuyển tiếp cuộc gọi và đã nhận được nhiều cuộc gọi trong cùng một thời gian. Tổng đài đã chuyển tiếp toàn bộ các cuộc gọi đến tổng đài hoặc thuê bao khác và ghi nhận toàn bộ hơn 4.300 cuộc gọi là chính xác.

Bị đơn không đồng ý với kết quả giám định này, tuy nhiên, không đưa ra được chứng cứ nào cho thấy kết quả giám định là không chính xác, khách quan nên tòa không đồng ý việc giám định lại.

Do đó, HĐXX đã chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, tuyên buộc bà Ngân phải trả lại cho VNPT số tiền 1,1 tỉ đồng tiền cước phí điện thoại.

Theo: Dân Trí

-XEM THÊM-

14 tiếng dùng hết 1,1 tỉ đồng cước điện thoại

Khi vừa hòa mạng thì thuê bao của bà Ngân phát sinh cước cao bất thường trong 14 tiếng với số tiền 1,1 tỉ đồng tiền cước gọi, sử dụng dịch vụ chuyển vùng quốc tế.

Chiều 15/8, TAND TPHCM xử phúc thẩm vụ án dân sự giữa Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) kiện bà Sỹ Truyền Hoàng Ngân (ngụ phường 5, quận 11) đòi gần 1,1 tỉ đồng tiền cước phí điện thoại.

Theo đơn khởi kiện nộp tòa vào tháng 6/2014, VNPT trình bày, ngày 1/7/2013, bà Ngân có ký hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính viễn thông với một chi nhánh của Viễn thông TPHCM (thuộc VNPT).

Theo hợp đồng, Viễn thông TPHCM cung cấp cho bà Ngân sim điện thoại thuê bao trả sau số 0918…524. Ngoài việc gọi trong nước, bà Ngân còn được sử dụng sim này để gọi chuyển vùng quốc tế không bị giới hạn bởi vị trí máy gọi, máy nhận.

Bà Ngân ký quỹ 5 triệu đồng, khi nào không sử dụng dịch vụ này nữa thì sẽ được nhận lại tiền ký quỹ.

Nhưng khi vừa hòa mạng thì thuê bao của bà Ngân phát sinh cước cao bất thường, từ ngày 1 – 6/7/2013, bà Ngân đã gọi và sử dụng dịch vụ chuyển vùng quốc tế làm phát sinh tiền cước gần 1,1 tỉ đồng.

Từ đó, Viễn thông TPHCM thông báo cho bà Ngân biết sự việc và yêu cầu bà thanh toán cước phí gần 1,1 tỉ đồng. Do bà Ngân không đồng ý nên VNPT khởi kiện đòi tiền.

Trước đó, xử sơ thẩm, TAND quận 11 bác đơn khởi kiện của VNPT. Theo HĐXX cấp sơ thẩm, VNPT được xác định là bên mạnh thế vì VNPT đương nhiên là bên có hiểu biết hơn so với bà Ngân về những vấn đề liên quan đến việc ký kết và sử dụng dịch vụ viễn thông; đồng thời là bên soạn thảo hợp đồng, vì vậy phải giải thích hợp đồng theo hướng có lợi cho bà Ngân và nguyên đơn phải chịu sự bất lợi.

Ngoài ra, VNPT giải thích trong gần 1,1 tỉ đồng thì có gần 1 tỉ đồng là cước chuyển cuộc gọi, không phải cước gọi quốc tế nhưng VNPT không cung cấp được các số máy đã gọi cho thuê bao 0918…524 để thực hiện dịch vụ chuyển cuộc gọi.

Theo đó, toà sơ thẩm nhận định phải hiểu hợp đồng giữa các bên rằng, khi tiền cước phí sử dụng dịch vụ roaming vượt quá 5 triệu đồng thì Viễn thông TPHCM phải chặn cuộc gọi. Do Viễn thông TPHCM không chặn là lỗi thuộc về nguyên đơn nên phải chịu hậu quả; phía bà Ngân chỉ phải chịu tiền cước phí trong giới hạn đã ký kết. Không chấp nhận bản án sơ thẩm Viễn thông TPHCM kháng cáo lên TAND TPHCM.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn cho biết sau khi vừa hòa mạng thì thuê bao của bà Ngân phát sinh cước cao bất thường trong 14 tiếng với số tiền 1,1 tỉ đồng tiền cước gọi, sử dụng dịch vụ chuyển vùng quốc tế, nên Viễn thông TPHCM đã ngừng cung cấp dịch vụ, yêu cầu bà Ngân thanh toán cước phí nhưng bà Ngân không thanh toán.

Đại diện ủy quyền cho bà Ngân không đồng ý trả tiền và cho rằng phía VNPT đã giải thích hợp đồng không đúng nội dung đôi bên giao kết. Bà chỉ đăng ký sử dụng dịch vụ gọi chuyển vùng quốc tế trong trường hợp khi thuê bao ở nước ngoài, hoàn toàn không có việc gọi quốc tế mà không bị giới hạn bởi vị trí máy gọi, máy nhận như phía nguyên đơn trình bày. Hơn nữa, trong hợp đồng không có thỏa thuận về việc sử dụng dịch vụ gọi quốc tế.

Khi ký quỹ 5 triệu đồng, giao dịch viên giải thích số tiền này là ngưỡng cước phí gọi tối đa, nếu cước phí quá số này thì sẽ bị chặn cuộc gọi. Trong hợp đồng, giao dịch viên còn ghi thêm chữ “ngưỡng 500” và giải thích là ngưỡng cước cuộc gọi trong nước một tháng không quá 500.000 đồng.

Ngoài ra, bà Ngân còn khai đã cho một người quen mang quốc tịch Pakistan sử dụng sim điện thoại trên. Sau khi sự việc xảy ra, bà Ngân không liên lạc được với người này, cũng không biết người này ở đâu nên đã làm đơn yêu cầu Công an TPHCM làm rõ. Đến nay, ngoài việc cho biết có nhận, thụ lý đơn tố giác của bà thì cơ quan công an chưa thông báo gì thêm.

Vụ án do có nhiều tình tiết phức tạp nên HĐXX phúc thẩm cho biết nghị án kéo dài và tuyên án vào chiều 21/8.

 

Có thể bạn chưa xem Cùng tác giả